Thứ Hai, 26 tháng 5, 2008

Entry for 27 May 2008

Đt va ri đi hc em có chép được mt s sách, ch yếu là tiếng pháp không à, em có sp xếp li cho d tìm (ch có vài cun tiếng Anh em xếp dưới cùng ca mi phn). Các anh ch, các bn, các em cn cun nào thì c nói em đưa nha.

Đ.Thanh

RADIO DE POCHE:

- Abdomen - les 100 principaux diagnostics - m.p. federle - 2004

- Appareil osteomusculaire - les 100 principaux diagnostics - stoller, tirman, bredella- 2006

- Cardiologie - les 100 principaux diagnostics

- Cerveau - les 100 principaux diagnostics - 2004

- Gynecologie - les 100 pricipaux diagnostics

- Os temporal - les 100 pricipaux diagnostics - harnsberger - 2006

- Pediatrie les 100 principaux diagnostics - donnelly - 2006

- Sein les 100 principaux diagnostics - 2003

- Tête et cou - les 100 principaux diagnostics

- Thorax - les 100 principaux diagnostics

- Urgences en traumatologie les 100 principaux diagnostics - novelline - 2006

- Vasculaire - les 100 principaux diagnostics

GÉNÉRAL:

- Atlas des variantes de la normale et artefacts en IRM.1995

- Guide de Semiologie en IRM.L.Arrive.2002

- Guide de Semiologie en Scanner.L.Arrive.2001

- Guide d'imagerie Abdominopelvienne.L.Arrive.2004

- Imagerie et Urgences.J.M.Bruel.

- Interpretation en IRM.2002

- Interpretation en Scanner.Arrive.

- Echographie.A.Bonnin.2004

- Scanographie volumique multicoupe.2002

- TDM Interventionnelle.A.Gangi.

- Traite d'Imagerie Medicale.2004

- Angiographie par Resonance Magnetique .Ph.Douek et al.2002

- Comprendre l'IRM.2003

- Imagerie Dento-Maxillaire.R.Cavezian.2001

- Diagnostic ultrasound

- Fundamentals of Radiology.6th Edition.Robert A.Novelline.Squire's 2004

NEUROLOGIE +TÊTE ET COU:

- Imagerie des Epilepsies. J.L.Dietemann

- Nerfs Craniens-Anatome,Clinique,Imagerie.2002

- IRM en Pathologie de l'Encephale.Dietemann.1993

- Systeme Nerveux Encephalo-Peripherique. Andre Leblanc.

- Tomodensitometrie de l'oreille.2003.G

- Imagerie de l'Oreille. Francis Veillon.

- Imagerie Maxillo-Faciale Practique.G.Teman.2002

- Imagerie Maxillo-Faciale.Nadine Martin.

- Head and Neck Imaging. 4thEdition. Peter M.Som.2003

- MRI of the Brain and Spine.S.W.Atlas.

THORAX:

- Atlas d'Imagerie Thoracique. A.Gangi.

- Guide d'interpretation de la radiography thoracique de l'enfant. M.Hassan et al.

- Imagerie thoracique de l'adulte

- IRM des Malformations Cardio-Vasculaires.B.Kastler.

- Imagerie Cardiaque-Scanner et IRM. O.Vignaux et al.

- Thoracic Imaging-Pulmonary & Cardiovascular Radiology. Richard Webb.

DIGESTIF:

- TDM de l'Abdomen aigu de l'Adulte. E.Delabrousse.2004

- Imagerie des Tumeurs du Foie.2003

- Imagerie de l'appareil digestif opere.M.Zins.1999

- Imagerie du Foie,des Voies biliaires,du Pancreas et de la Rate.2002

- Atlas de Cholangio-pancreatographie IRM. L.Van Hoe et al.2002

- Textbook of Gastrointestinal Radiology.Gore.1994

OSTÉO-ARTICULAIRE:

- Arthrographie, Arthroscanner, Arthro-IRM.Member superieur et tronc.2002

- Arthrographie, Arthroscanner, Arthro-IRM.Member inferieur et Pathologies Specifiques.2001

- Atlas d'Echographie du Systeme Locomoteur-Le Membre Inferieur.2000

- Atlas d'Echographie du Systeme Locomoteur-Le Membre Superieur.2000

- Genou

- Imagerie en traumatologie du sport.

- IRM Osteo-Articulaire.

- Actualites en Echographie de l'Appareil locomoteur.J-L.Brasseur.2004

- Echographie Synoviale.2002

- Rx interventionnelle dans le ttt de la douleur.2003

URO-GENITO:

- Imagerie de la Prostate.Cornud.2004

- Imagerie de l'Appareil Genito-Urinaire.2005

- Imagerie du bas appareil urinaire de l'adulte.A.Dana.2004

ENDOCRINOLOGIE:

- Imagerie en Endocrinologie.

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2008

MỜI CHẨN ĐOÁN

bệnh nhân nam, 50 tuổi, đau dây V trái.

epidermoid4

Axial T1W

epidermoid5

Axial FLAIR

epidermoid1

Axial T2W

epidermoid7

Axial T1W + Gd.

epidermoid6

CISS 3D

epidermoid2

DWI b 1000

epidermoid3

ADC map

Mời bà con cho chẩn đoán và bình luận

Sẽ có kết quả của hai cas trong một entry sau

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2008

Thôi Anh Hãy Về

Giải trí 1 chút với giọng ca....Handsdung nha

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2008

CÁC DẤU HIỆU ''THỨC ĂN" TRONG X QUANG XƯƠNG KHỚP

TÓM TẮT:

Bài này mô tả một số dấu hiệu "thức ăn" trong X quang xương khớp. Bàn luận các bệnh lý gây ra các dấu hiệu đặc hiệu này và các chẩn đoán phân biệt.

Các bác sĩ X quang hiện nay có ít thời gian để tận hưởng ẩm thực và cảm giác ngon miệng trong thời gian làm viện bận rộn suốt ngày. Trong buổi trưa cảm giác thèm ăn không giảm xuống, nhưng đầu óc đã được no nê nhờ ghi nhận nhiều dấu hiện "thức ăn" trong X quang xương khớp. Bàn luận các bệnh lý gây ra các dấu hiệu X quang đặc hiệu này cho một điều đáng suy nghĩ và làm quen với các chẩn đoán phận biệt, một nơi nào đó thích hợp, người đọc có thể ngẫm nghĩ.

Bữa ăn sáng

Thân sống bánh kếp

Thuật ngữ "thân sống bánh kếp" (hình 1) là sự dẹt lan toả, rõ rệt toàn bộ thân sống (đốt sống phẳng-vertebra plana). Có thể gặp trong nhiều bệnh. Ở người lớn, nguyên nhân thường gặp là loãng xương, u di căn, đa u tuỷ. Ở trẻ em, cần xem xét đến bệnh u hạt tăng bạch cầu ưa acid (eosinophilic granuloma). Các nguyên nhân khác gồm leukemia, lymphoma, hemangioma, viêm xương tuỷ xương, hoại tử vô mạch và gãy chấn thương.

Hình 1

Ngón tay xúc xích

Ngón tay xúc xích (hình 2) là sưng mô mềm lan tỏa toàn bộ một ngón tay (hoặc ngón chân) giống như hình dáng cục xúc xích, thấy khi khám thực thể hoặc trên X quang. Có lẽ gần như đặc trưng cho viêm khớp vảy nến, có thể gây viêm khớp gian đốt ngón gân và xa cũng như bao gân ngón; tuy nhiên, ngón tay xúc xích có thể do các dạng khác của viêm khớp hoặc viêm ngón. Có thể xem xét đến viêm bao gân ở bệnh nhân không có bất thường xương hoặc khớp. Ở bàn chân, viêm khớp phản ứng (một thành phần của hội chứng Reiter) hoặc gout có thể gây ngón tay xúc xích.

Hình 2

Gãy trái chuối

"Gãy trái chuối" (hình 3) gặp ở xương dài bệnh nhân bị bệnh Paget. Còn được gọi là gãy do suy yếu vỏ xương vì xảy ra ở bề mặt căng (lồi) của xương bị suy yếu và xương cong dạng Paget, tương tự như ở chỗ vỏ trái chuối có thể vỡ ra khi bẻ nó để lột vỏ. Vỏ đầu gần xương đùi mặt ngoài là vị trí thường gặp của gãy trái chuối; Ngược lại, gãy stress thông thường của đầu gần xương đùi thường xảy ra dọc theo bề mặt bị ép (mặt lõm).

Hình 3

Bữa ăn trưa

Thân sống Sandwich

"Thân sống Sandwich" (hình 4) gặp ở bệnh nhân bị xương hoá đá (osteopetrosis), một bệnh lý xương di truyền do hoạt động tế bào tiêu xương bị thiếu hụt. Ngoài tăng đậm độ xương lan toả, trên X quang còn có thể thấy xơ xương bề mặt trên và dưới của thân sống giống như bánh mì sandwich. Dạng tương tự có thể gặp ở bệnh nhân bị xơ tủy xương hoặc ở các bệnh nhân loạn dưỡng xương do thận (renal osteodystrophy)

Hình 4

Xương nguyệt hình miếng pho mai (và ly trà đầy)

Xương nguyệt thường có hình dáng ly trà trên X quang nghiêng và hình tứ giác trên chiều thế thẳng(PA). Xương nguyệt trông cỏ vẻ có hình tam giác trên thế PA (giống như lát phô mai hình tam giác) ở bệnh nhân bị trật khớp xương nguyệt hoặc quanh xương nguyệt (hình 5A). Trật khớp này có thể đánh giá thêm ở thế chụp nghiêng (hình 5B). Khi trật khớp quanh xương nguyệt, xương quay và xuơng nguyệt còn giữ mối quan hệ tương đối bình thường, trong khi xương cả trật ra sau. Khi trật khớp xương nguyệt, xương quay và xương cả cò tương đối thẳng hàng, trong khi xương nguyệt di lệch về phía gan bàn tay. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, xương nguyệt có hình tam giác cũng có thể thấy ở thế chụp PA ở bệnh nhân có dạng mất vững một phần xen vào giữa về phía sau.

Hình 5A Hình 5B

Dấu "cắn"

Dấu "cắn" (hình 6) sự phá hủy khớp giống bệnh lý thần kinh thấy trong bệnh khớp do steroid. Trong các trường hợp hoại tử chỏm nặng (sau xẹp dưới sụn của chỏm xương đùi), đường bờ khớp có thể trở nên biến dạng giống như xương bị gặm. Mặc dù nhiều loại viêm khớp có thể dẫn đến mòn nhiều, có thể giống như bị "cắn", các bệnh này thường bị cả hai phía của khớp và không gây xơ chỏm xương đùi liên quan với hoại tử vô mạch. Mòn giống như bị cắn ngoài khớp cũng có thể thấy ở bệnh nhân bị guot có cục tophi. Dấu hiệu cắn cũng được mô tả trong u xơ sụn dạng nhầy (chondromyxoid fibroma), là một u sụn xương lành tính hiếm gặp. Các u này thường xuất phát lệch tâm trong hành xương của xương dài và có thể xuyên qua vỏ xương theo kiểu giống như bị cắn.

Hình 6

Buổi tối

Dấu hiệu bánh bao nhân nho hamburger và bánh bao nhân nho hamburger đảo ngược

Dấu hiệu bánh bao nhân nho hamburger (hình 7) là mối quan hệ bình thường giữa mắt khớp trên và mặt khớp dưới của đốt sống cổ, thấy trên hình CT cắt ngang. Mặt khớp trên hình thành "đỉnh bánh", mặt khớp dưới cũa đốt sống chồng lên hình thành phần "đáy bánh" và khớp liên mấu là "bánh bao". Không có dấu hiệu bánh bao nhân nho Hamburger thấy khi trật khớp liên mấu; đặc biệt, diện khớp trên có thể trật ra sau so với diện khớp dưới, tạo hình ảnh giống như "đáy bánh" dựa vào "đỉnh bánh" (hình 8), còn được gọi là dấu hiệu "bánh bao nhân nho đảo ngược"

Hình 7

Hình 8

Viêm màng xương kiểu vỏ hành

"Viêm màng xương kiểu vỏ hành" thấy trong bệnh lý xương xâm lấn và được gọi như vậy vì biểu hiện nhiều lớp màng xương mỏng tương tự như các lớp vỏ hành đồng tâm khi cắt ngang. Kiểu này được cho là biểu hiện hoặc là gia tăng của đáp ứng màng xương bình thường hoặc là các giai đoạn phát triển nhanh và chậm luân phiên nhau. Nó thấy trong một số xương khớp xâm lấn, đặc biệt sarcoma xương ác tính (chẳng hạn sarcoma xương, sarcoma Ewing), lymphoma xương và viêm xương tủy xương cấp.

Hình 9

Đầu ngón tay dùi trống

Thuật ngữ "đầu ngón tay dùi trống" (hình 10) là các đốt ngón xa hình búi tròn và rộng của bệnh nhân bị hội chứng Turner, nói một cách hình tượng là giống như rộng phần đuôi thịt của gà giò hoặc dùi trống Thổ nhĩ kỳ. Ngón tay dùi trống cũng có thẩ thấy trong bệnh nhân hội chứng rối loạn di truyền hiếm gặp Coffin-Lowry.

Hình 10

Vòm sọ muối tiêu

"Vòm sọ muối tiêu" mô tả hình ảnh hạt của xương sọ ở bệnh nhân bị cường cận giáp. Dấu hiệu này biểu hiện các ổ tiêu xương hình cầu nhỏ bị kích thích do nồng độ hormone cận giáp cao. Trên X quang sọ, những đốm nhỏ thấu quang trông giống như rắc muối tiêu (hình 11). Mặc dầu hầu như liên quan một cách đặc thù với cường cận giáp, sọ muối tiêu cũng thấy ở bệnh nhân mất khoáng xương do u lan toả hoặc nhiễm trùng.

Hình 11

Hạt gạo và thể gạo

Nhiễm ký sinh trùng Taenia solium (sán lợn) và hậu quả đáp ứng của vật chủ có thể dẫn đến hình thành mô hạt (ấu trùng chết đóng vôi) trong cơ, não và các mô khác (cysticercosis). Hình ảnh X quang là mô hạt đóng vôi hình bầu dục hoặc dạng đường, nằm dọc theo trục dài cơ, xứng đáng với từ "hạt gạo" (hình 12). Từ "hạt gạo" cũng còn dùng để chỉ thể loose trong khớp thấy trên X quang ở bệnh nhân lắng đọng xương sụn trong bao hoạt dịch (synovial osteochondromatosis).

Từ "thể gạo" được dùng để mô tả hình thái mô học của các lông tơ hoạt dịch phì đại bong ra trong khớp ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, nhiễm lao và các bệnh viêm khớp khác. Thể gạo cũng có thể thấy trong khớp và bao hoạt dịch trên MRI là nhiều nốt nhỏ tín hiệu thấp trên T2W (hình 13).

Hình 12.

Hình 13

(còn tiếp)

Kỳ sau:

Quà vặt và đồ ngọt

tracker

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2008

DẤU HIỆU HÌNH ẢNH: DẤU NẾN CHẢY (The dripping candle wax sign)

HÌNH ẢNH

Dấu hiệu nến chảy gặp trong Xquang xương quy ước. Hình ảnh phì đại vỏ xương không đều, thường xảy ra ở một phía của xương bị tổn thương, giống như hình ảnh nến chảy một bên của đèn cầy (hình 1).

Figure 1

Hình 1: hình Xquang ngực thẳng PA trước mổ ở một bệnh nhân phẫu thuật dị dạng động tĩnh mạch mặt. Ghi nhận hình ảnh phì đại xương dạng nến chảy dọc theo phần dưới của cung sau các xương sườn 8,9.

GIẢI THÍCH

Dấu hiệu nến chảy là biểu hiện của bệnh nến xương (melorheostosis). Dấu hiệu Xquang phản ảnh sai sót ở thời kỳ phôi thai chủ yếu là sự hình thành xương trong màng xương. Điều này dẫn đến sự dày không đều của vỏ xương (phì đại vỏ xương), lan đến (nhưng thường không vượt qua) bề mặt khớp. Các dấu hiệu bệnh học gợi ý sự sản xuất quá mức chất căn bản xương và tăng sinh mạch. Sự phân bố của xương bị ảnh hưởng được cho là do ưu thế của bệnh nến xương gặp ở diện xương thuộc một đoạn thần kinh tủy (sclerotome) (vùng xương được dẫn truyền thần kinh bởi chỉ một thần kinh cảm giác tủy sống đơn độc).

THẢO LUẬN

Bệnh nến xương (còn được gọi là bệnh Leri) là một loạn sản xơ xương hiếm gặp. Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, chi (melos), chảy (rhein) do hình ảnh tăng sinh xương kiểu nến chảy đặc trưng. Bệnh thường không có triệu chứng, được chẩn đoán tình cờ khi chụp Xquang với mục đích khác.

Khi bệnh có biểu hiện lâm sàng, triệu chứng thường gặp nhất là đau và cứng chi. Mặc dù tuổi xuất hiện bệnh thay đổi, bệnh thường tiềm ẩn cho đến tuổi vị thành niên hoặc người trẻ. Bệnh diễn tiến mạn tính, đôi khi đưa đến mất chức năng rõ rệt, có thể phải đoạn chi.

Bệnh nến xương ưu thế ở các xương phụ, thường gặp nhất ở xương dài của chi trên và chi dưới, mặc dù cũng có thể gặp ở xương bàn tay và bàn chân. Bệnh hiếm khi gặp ở xương trục. Bệnh có thể gặp ở một xương (monostotic), một chi (monomelic), nhiều xương (polyostotic). Có những báo cáo về các bệnh cảnh lâm sàng đi kèm như xơ cứng bì. Vùng da bị tổn thương nằm phía trên xương bệnh. Có những báo cáo về sự kết hợp của bênh với các dị dạng và u mạch, gợi ý thiếu sót di truyền trong sinh mạch (angiogenesis). U máu, u cuộn mạch, dị dạng động tĩnh mạch cũng gặp ở bệnh nhân bị nến xương.

Mặc dầu bệnh nến xương được mô tả một cách kinh điển là hình ảnh phì đại xương dạng nến chảy, nhưng có một loạt 23 ca đuợc báo cáo với những biểu hiện Xquang khác nhau. Các tác giả đã mô tả năm dạng: giống osteoma, giống viêm cơ cốt hoá, giống bệnh xương có sọc (osteopathia striata), cổ điển và hỗn hợp. Trong mẫu nghiên cứu của họ chỉ có 5 bệnh nhân có biểu hiện Xquang dạng kinh điển. Chẩn đoán có thể trở nên phức tạp do có các hội chứng chồng lên (biểu hiện Xquang hơn một xương bị loạn sản xơ). Hội chứng chồng lên thường gặp nhất có biểu hiện tất cả các đặc điểm của bệnh xương đặc đốm (osteopoikilosis), bệnh xương có sọc và bệnh nến xương, làm cho một số các nhà nghiên cứu kết luận chúng có cùng một cơ chế bệnh sinh.

Mới đây, xét nghiệm di truyền ở một số gia đình có bệnh xương đặc đốm, bệnh nến xương và hội chứng Buschke-Ollendorff (BOS; bệnh xương đặc đốm kết hợp với nevi mô liên kết lan tỏa)đã hỗ trợ giả thuyết cho rằng một số loạn sản xơ xương có thể có chung nguồn gốc. Hellemen và cs đã mô tả đột biến mất chức năng trong LEMD3 (trên nhiễm sắc thể 12q) dẫn đến bệnh xương đặc đốm, BOS và bệnh nến xương. Ngoài ra, họ có thể bác bỏ giả thuyết sâu hơn của một số nhà nghiên cứu cho rằng BOS và bệnh nến xương là do sự đột biến nhiễm sắc thể "va chạm thứ phát". Công trình nghiên cứu sâu hơn của một nhóm khác cho thấy rằng gen này mã hóa cho proteine màng nhân bên trong mà protein này ức chế cả yếu tố tăng trưởng chuyển dạng beta và protein tạo hình thái xương, sự tăng số lượng các receptors trên bề mặt tế bào đích của các protein này chịu trách nhiệm biểu hiện kiểu hình trên lâm sàng của các bệnh này.

Tóm lại, dấu hiệu nến chảy trên xquang quy ước là biểu hiện của bệnh nến xương. Mặc dù các kỹ thuật hình ảnh khác hiếm khi cần thiết cho chẩn đoán nhưng các dấu hiệu tương tự có thể thấy trên CT (hình 2). Cộng hưởng từ thấy tín hiệu thấp của xương bị bệnh trên tất cả các chuỗi xung, xạ hình xương có tăng bắt thuốc trung bình và không đối xứng.

Figure 2

Hình 2: Các lát cắt ngang không liên tục qua cung sau xương sườn 8,9 ở bệnh nhân trong hình 1 thấy giới hạn sắc nét giữa vùng xương bình thường và xương bệnh, nhấn mạnh đến phân bố của diện xương thuộc một đoạn thần kinh tủy.

Nguồn ở đây

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2008

DẤU HIỆU HÌNH ẢNH: DẤU CHẤM TRÒN (Polka-dot sign)

HÌNH ẢNH

Dấu hiệu chấm tròn thấy trên hình ảnh CT cắt ngang của thân sống. Khoang tuỷ của thân sống có nhiều chấm tăng đậm độ (Hình) giống như kiểu trang tri vải bằng chấm tròn trên áo quần.

Figure 1

Hình ảnh CT cắt ngang qua thân sống thắt lưng thấy các chấm tròn điển hình của Hemangioma thân sống, tổn thương hầu như ở khoang tuỷ xương.

GIẢI THÍCH:

Dấu hiệu này được tạo ra do dày bè xương trong hemangioma thân sống, thấy trên hình cắt ngang là những đốm nhỏ tăng đậm độ. Dày bè xương do sự tăng cường của mạng lưới xương bên cạnh các kênh mạch máu của tổn thương do tiêu xương.Quá trình này xảy ra trong tuỷ mỡ.

BÀN LUẬN:

Hemangioma xương là tổn thương lành tính có đặc điểm các khoang mạch được lót bởi các tế bào biểu mô. Thương gặp ở xương cột sống và xương sọ, ít gặp hơn ở xương dài như xương chày , xương đùi và xương cánh tay. Hemangioma thân sống chiếm # 28% các Hemangioma xương, ngực là vị trí thương gặp nhất. Hemangioma thương không có triệu chứng và thường được phát hiện tình cờ. Một nghiên cứu lớn trên tử thi thấy có # 11% Hemangioma thân sống. Tuy nhiên, với hình ảnh học hiện đại, ngày nay người ta phát hiện nhiều Hemangioma nhỏ, vì vậy có lẽ tần suất còn cao hơn 11%. Tỷ lệ nam: nữ = 2:1, thường được phát hiện trong độ tuổi từ 40 - 50 tuổi. Tổn thương có thể chiếm một phần hay toàn bộ thân sống, và trong một 1/3 trương hợp là nhiều ổ.

Hầu hết hemangioma thân sống không có triệu chứng và không quan trọng trên lâm sàng, tuy nhiên đôi khi có các triệu chứng thần kinh do xẹp thân sống hoặc lan vào trong ống sống gây chèn ép, có thể dẫn đến đau và/ hoặc liệt hai chi dưới, đạc biệt nếu tổn thương lan đến thành phần sau hoặc mô mềm xung quanh. Hemangioma thân sống cho thấy các sọc dọc đều đặn và vỏ xương bình thường trên Xquang cột sống qui ước. Thương tổn thương thân sống không hoàn toàn, cung sau và mô mềm thương bình thường.

Hemangioma thân sống gồm mô đệm nằm trong mạng lưới xương. Laredo và cs đã nghiên cứu trị số đậm độ CT của mô đệm là một dấu chỉ điểm của đặc điểm tổn thương và dạng tác động. Họ thấy mô đệm có thể có đậm độ mỡ, mô mềm hoặc cả hai. Các hemangioma thân sống không triệu chứng có khuynh hướng chứa nhiều mỡ hơn, biểu hiện bằng đậm độ âm trên CT, ngược lại nếu nhiều mạch máu và đậm độ cao trên CT thì thường có triệu chứng

MRI, hemangioma thân sống có đậm độ cao trên T1W Và T2W. Tuy nhiên, mức độ tín hiệu cao phụ thuộc vào lượng mỡ. Mỡ trong mô đệm giữa các bè xương càng nhiều thì tín hiệu càng cao.

Dấu hiệu chấm tròn trên CT là biểu hiện của hemangioma lành tính. Chẩn đoán phân biệt hemangioma xương dựa vào các dấu hiệu Xquang qui ước đã được Liu và cs mô tả. Ho đã mô tả các dấu hiệu X quang kinh điển trên hemangioma nền sọ. Các chẩn đoán có thể là sarcoma sụn và u màng não trong xương. Bemporad và cs dã báo cáo biểu hiệu Xquang ít gặp của Ewing sarcoma nguyên phát cột sống cổ. Trên CT, thấy dạng bè xương thô. dấu hiệu này kết hợp với khối mô mềm ngoài màng cứng hình quả tạ lan ra lỗ liên hợp kèm chèn ép tuỷ. hemangioma trong xương cần phải phân biệt với sarcoma, sarcoma thường có đặc điểm xâm nhập như phá huỷ vỏ xương và xâm lấn màng xương.

Tóm lại, dấu hiệu chấm tròn trên hình CT cắt ngang do dày bè xương trong hemangioma thân sống.

Nguồn: ở đây

tracker

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2008

CÁC DẤU HIỆU HÌNH ẢNH: RÃNH LIÊN THÙY KHÔNG HOÀN TOÀN

HÌNH ẢNH

Dấu hiệu rãnh liên thùy không hoàn toàn thấy trên X quang ngực thẳng, gồm một vùng sáng thấu quang quanh rốn phổi được giới hạn phía ngoài bởi một bờ cong lõm và mờ ở phía ngoại vi của bờ này (hình 1). Dấu hiệu này thường thấy ở phổi bên phải.

Figure 1

Hình 1: X quang ngực thẳng chụp nằm ngữa, minh hoạ dấu hiệu rãnh liên thùy không hoàn toàn là vùng thấu quang ở phía trong và vùng mờ phía ngoài ở phần giữa phổi trái. Mũi tên = bờ hình thành do dịch màng phổi cạnh vùng phổi chứa khí.

GIẢI THÍCH

Hình ảnh này gây ra do dịch màng phổi ở phía ngoài của vùng phổi chứa khí ở bệnh nhân có rãnh liên thùy lớn không hoàn toàn (hình 2). Sự thấu quang quanh rốn phổi là mô phổi chứa khí. Đường cong lõm ở phía ngoài là do dịch bao quanh vùng phổi chứa khí.

Figure 2

Hình 2: Hình CT ngực cắt ngang ở bệnh nhân trên khẳng định rãnh liên thùy không hoàn toàn ở phía bên trái với dịch màng phổi thấy dọc theo bờ của thùy dưới phổi chứa khí.

BÀN LUẬN

Các rãnh liên thùy chia phổi thành các thùy bằng các nếp gấp của màng phổi tạng và là các điểm mốc giải phẫu quan trọng trên X quang ngực. Cần phải biết giải phẫu của các rãnh này để nhận ra các hình thái trên X quang quy ước và CT đồng thời để đánh giá sự hiện diện và độ lan của bệnh.

Rãnh liên thùy lớn tách biệt thùy trên và thùy giữa với thùy dưới ở bên phải và thùy trên với thùy dưới ở bên trái. Trên X quang ngực thẳng, Proto và Ball đã mô tả rãnh liên thùy lớn là một đường cong, thông thường bờ thấu quang ở phía trong và mờ ở phía ngoài, chạy dọc theo phân thùy trên của thùy dưới, được gọi là rãnh liên thùy lớn trên ngoài (superiolateral major fissure). Đường cong này được xác định ở 14% bệnh nhân. Mờ ở phía ngoài được cho là do mỡ ngoài màng phổi, tuy nhiên, dày màng phổi hoặc dịch có thể gây ra hình ảnh tương tự hoặc nhiều hơn. Fisher đã mô tả năm yếu tố sau quy cho khả năng nhìn thấy rãnh liên thùy lớn trên X quang ngực thẳng: thay đổi thể tích do xoay rãnh, rãnh không hoàn toàn hoặc biến thể kèm dịch, dày màng phổi, đông đặc phổi kế cận và thay đổi đường chạy của rãnh. Một nghiên cứu trước đây trên CT về rãnh liên thùy lớn thấy rằng nó hấu hết là dải thấu quang vô mạch, dạng đường ít gặp hơn và dạng dải mờ ít gặp nhất. Trên CT, hình ảnh của rãnh cũng phụ thuộc vào độ dày lát cắt.

Rãnh liên thùy lớn rất thay đổi khác nhau và thường không hoàn toàn. Mức độ không hoàn toàn có phạm vi từ gần như không có hoàn toàn đến gần như có hoàn toàn. Rãnh liên thùy lớn không hoàn toàn thường gặp nhiều hơn ở phổi phải, và mức độ không hoàn toàn thường khác nhau ở phía này. Glazer và cs. thấy rãnh liên thùy lớn không hoàn toàn ở bên phải là 64% và bên trái là 52% trong 50 bệnh nhân nghiên cứu. Tương tự, Aziz và cs. đã báo cáo rằng trong 622 bệnh nhân, 48% rãnh liên thùy lớn bên phải và 43% rãnh liên thùy lớn bên trái là không hoàn toàn trên ít nhất một hình CT. Các hai nghiên cứu này đều đánh giá trên các hình CT phổi lát cắt mỏng. Raasch và cs đã thực hiện một nghiên cứu chi tiết trên các mẫu mô phổi bị xẹp và được cố định (n=100; 50 bên phải và 50 bên trái) và đã báo cáo rãnh liên thùy phổi không hoàng toàn là 70%.

Có một số mối quan hệ lâm sàng của rãnh liên thùy lớn không hoàn toàn. Khi có rãnh phổi không hoàn toàn, nhu mô phổi kế cận bị dính và có thể cho phép bệnh lan và di chuyển khí qua phía bên kia. Các quá trình bệnh lý như viêm phổi, có thể lan giữa các thùy kế cận qua lỗ Kohn và ống Lambert. Di chuyển khí qua bên kia có thể quan trọng trên lâm sàng trong trường hợp tắc phế quản thùy. Di chuyển khí có thể cho phép trao đổi khí của thùy phổi còn tiếp tục khi có phế quản bị tắc nghẽn thông qua thùy phổi không bị tắc nhờ các rãnh liên thùy lớn không hoàn toàn. Otsuji và cs. thấy rằng hơn 95% rãnh liên thùy không hoàn toàn có liên quan với các cấu trúc mạch máu-phế quản chạy ngang qua các phân thùy phổi bị dịch. Cấu trúc thường gặp nhất là tĩnh mạch phổi, ít gặp hơn là động mạch phổi hoặc phế quản, có thể ảnh hưởng đến diễn tiến lâm sàng của nhiều bệnh lý phổi khác nhau. Kiến thức về sự hiện diện của rãnh liên thùy không hoàn toàn có thể quan trọng trong lập kế hoạch cắt thùy phổi vì có nguy cơ rò rỉ khí cao ở thùy phổi dính.

Tràn dịch màng phổi là một thực thể lâm sàng thường gặp trong nhiều nguyên nhân. Chẳng hạn, dấu hiệu rãnh liên thuỳ không hoàn toàn thường thấy ở những bệnh nhân bệnh nặng được chụp phim tư thế nằm ngửa. Vớ độ thường gặp của cả dịch màng phổi và rãnh liên thùy không hoàn toàn nói trên, dấu hiện rãnh liên thùy không hoaà toàn có thể là một công cụ hữu ích trong thực hành hằng ngày để tránh nhầm lẫn phổi chứa khí với tụ khí bệnh lý trong lồng ngực.

Nguồn: link ở đây

DOI: 10.1148/radiol.2472050864

(Radiology 2008;247:589-590.)
© RSNA, 2008


Signs in Imaging

The Incomplete Fissure Sign1

Meghan G. Lubner, MD

1 From the Mallinckrodt Institute of Radiology, Washington University School of Medicine, 510 S Kingshighway Blvd, Box 8131, St. Louis, MO 63110. Received May 23, 2005; revision requested July 9; revision received November 1; final version accepted January 16, 2006. Address correspondence to the author (e-mail: lubnerm@mir.wustl.edu ' + u + '@' + d + ' ).